Skip Navigation Links.


Đường dây nóng Cục thuế Binh Dương
Phòng Tuyên truyền & hỗ trợ : 0650 3899111
Phòng Kiểm tra nội bộ : 0650 3824239
Phòng Tổ Chức cán bộ: 0650 3824235
Email : duongdaynong.bdu@gdt.gov.vn


Số lượt người đã truy cập

Số người đang truy cập
60

 
 

Các phần mềm hỗ trợ doanh nghiệp
Netframework
Phần mềm hỗ trợ kê khai
Phần mềm quyết toán thuế TNCN và đăng ký thuế MST cá nhân

Nội dung chi tiết
Công văn số :DC_GT_luat_gia ;Ngày phát hành :04/09/2012
Đề cương giới thiệu Luật gía

ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT GIÁ

           

Ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Giá. Ngày 02 tháng 7 năm 2012, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký Lệnh công bố Luật Giá và luật sẽ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

 

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT GIÁ

1. Xuất phát từ yêu cầu phải tiếp tục đổi mới phương thức quản lý giá, khắc phục những bất cập hiện tại để quản lý giá phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; bảo đảm khuyến khích cạnh tranh về giá.

Trong những năm qua, hệ thống pháp luật về giá đã được ban hành và thực thi trong cuộc sống, góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi nền kinh từ từ cơ chế hành chính bao cấp sang cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Ngày 26/4/2002, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa X đã thông qua và ban hành Pháp lệnh Giá. Chính phủ ban hành Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá, Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03 tháng 8 năm 2005 về thẩm định giá; Bộ Tài chính đã ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện.

Cùng với Pháp lệnh Giá, một số luật, pháp lệnh có những nội dung quy định về giá như: Luật Cạnh tranh, Luật Điện lực, Luật Bưu chính, Luật Viễn thông, Luật Đất đai, Luật Dược, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Hàng không, Bộ Luật Hàng hải, Pháp lệnh Dự trữ quốc gia, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và một số văn bản pháp luật khác. Theo đó, đã hình thành được một hệ thống pháp luật để điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực giá.

Hệ thống pháp luật về giá được xây dựng, bổ sung, hoàn thiện và tổ chức thực hiện trong những năm qua đã thể chế hóa được đường lối của Đảng về quản lý, điều hành giá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật chung; góp phần tích cực vào việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật về giá  đã mở đường cho việc chuyển từ cơ chế giá hành chính áp đặt sang cơ chế giá thị trường có sự kiểm soát của Nhà nước. Thúc đẩy nhanh quá trình thay thế cơ chế Nhà nước quyết định giá hầu hết các loại hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế sang việc quy định giá cả theo cơ chế thị trường. Nhà nước giảm mạnh quyền định giá trực tiếp, chỉ còn định giá đối với một số hàng hóa, dịch vụ quan trọng, tác động lớn đến kinh tế - xã hội nhằm ngăn ngừa tình trạng độc quyền về giá, biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp. Nhà nước thực hiện việc quản lý, điều hành giá chủ yếu bằng các biện pháp kinh tế vĩ mô, phù hợp dần với yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường và cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; giảm mạnh việc bù lỗ, bù giá, bao cấp qua giá… giảm thiểu sự “méo mó” của hệ thống giá trong nền kinh tế.

Hệ thống pháp luật về giá đã bước đầu tạo được cơ chế phát huy, tôn trọng quyền tự định giá, cạnh tranh về giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật; tạo ra những điều kiện để huy động, phân bổ và sử dụng hợp lý hơn các nguồn lực của đất nước; góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng cao của nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.

Hệ thống pháp luật về giá đã phân định trách nhiệm giữa trung ương, địa phương, các Bộ, các ngành, các doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý giá, bình ổn giá, hiệp thương giá. Đồng thời quy định các cơ chế đấu thầu, đấu giá, thẩm định giá, thỏa thuận giá, niêm yết giá thay cho các cơ chế định giá, phê duyệt giá đã góp phần làm cho thị trường hoạt động công khai minh bạch hơn, giảm thiểu hoạt động của thị trường ngầm, làm cho hệ thống tín hiệu về giá trên thị trường mang tính khách quan hơn.

Bên cạnh những kết quả nêu trên, hệ thống pháp luật về giá hiện hành đã xuất hiện những bất cập nhất định, cụ thể:

Thứ nhất, Pháp lệnh Giá quy định: Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh theo pháp luật. Tuy nhiên, Pháp lệnh Giá chưa khẳng định nguyên tắc nhất quán thực hiện cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, chưa có quy định các cơ chế cạnh tranh về giá như: thoả thuận giá, đầu thầu, đấu giá, định giá dựa vào cạnh tranh.

Thứ hai, Pháp lệnh Giá quy định về các biện pháp bình ổn giá (BOG), trong đó có việc “trợ giá nông sản khi giá thị trường xuống quá thấp gây thiệt hại cho người sản xuất; trợ giá hàng hóa - dịch vụ quan trọng thiết yếu khác” không rõ về phạm vi, mức độ nên bị coi là chưa thực hiện đúng cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trong khi đó, các biện pháp bình ổn giá có hiệu quả để điều tiết mặt bằng giá như các biện pháp về tài chính, tiền tệ, các biện pháp về sử dụng quỹ bình ổn giá... lại chưa được quy định.

Cũng trong quy định về BOG, Pháp lệnh Giá chỉ quy định về BOG đối với một số mặt hàng cụ thể mà không có những quy định về BOG đối với toàn bộ mặt bằng giá khi có biến động bất thường.

Thứ ba, có những quy định trong Pháp lệnh Giá chưa rõ hoặc khó thực hiện như quy định về chống bán phá giá: không rõ chống bán phá giá hàng hóa trên thị trường nội địa hay chống bán phá giá hàng nhập khẩu, trong khi Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và đã có Luật Cạnh tranh quy định rõ vấn đề này.

Thứ tư, một số nội dung quy định về giá, thẩm định giá giữa Pháp lệnh Giá và các luật khác đã xuất hiện những nội dung không đồng bộ, không thống nhất, thậm chí mâu thuẫn, chồng chéo; cụ thể như:

- Về nội dung kiểm soát giá độc quyền giữa Pháp lệnh Giá và Luật Cạnh tranh: Pháp lệnh Giá chỉ nêu chung chung, không quy định các tiêu chí cụ thể độc quyền về giá và biện pháp kiểm soát giá độc quyền. Trong khi đó, Luật Cạnh tranh đã quy định cụ thể như áp đặt giá bất hợp lý… và Nhà nước kiểm soát bằng việc quy định giá. Vì vậy, những quy định về kiểm soát giá độc quyền của Pháp lệnh Giá không còn phù hợp với Luật Cạnh tranh và cũng không cần thiết phải quy định ở Luật Giá. 

- Về phương pháp xác định giá hàng hóa, dịch vụ: Pháp lệnh Giá không quy định về phương pháp xác định giá, nhưng Luật Thương mại có quy định về phương pháp xác định giá để thỏa thuận về giá; các luật khác như Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng… đều có quy định “Chính phủ quy định phương pháp xác định giá…”.

- Về nội dung liên quan đến thẩm định giá bất động sản giữa Pháp lệnh Giá và Luật Kinh doanh bất động sản: Cùng là hoạt động tư vấn nhưng Pháp lệnh Giá thì quy định là thẩm định giá, còn Luật Kinh doanh bất động sản thì quy định là định giá và nội hàm của hai khái niệm này cũng khác nhau. Định giá trong Luật Kinh doanh bất động sản là hoạt động tư vấn, xác định giá của một bất động sản cụ thể tại một thời điểm xác định; còn thẩm định giá trong Pháp lệnh Giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế. Mặt khác, Luật Kinh doanh bất động sản quy định cá nhân được cấp chứng chỉ định giá bất động sản có điều kiện về trình độ đào tạo từ cao đẳng trở lên, không yêu cầu điều kiện về kinh nghiệm công tác và một số tiêu chuẩn, điều kiện khác. Đồng thời còn quy định những người đã được cấp thẻ thẩm định viên về giá theo quy định của Pháp lệnh Giá phải học bổ sung về định giá bất động sản mới được thẩm định giá bất động sản; trong khi Pháp lệnh Giá quy định điều kiện khi cấp Thẻ thẩm định viên về giá là tốt nghiệp đại học trở lên, có kinh nghiệm công tác tối thiểu là 3 năm, có chứng chỉ đạt kết quả khóa học đào tạo, bồi dưỡng về chuyên ngành thẩm định giá, trong đó có thẩm định giá bất động sản và được quyền thẩm định giá tất cả các tài sản, kể cả bất động sản…

Thứ năm, về thẩm định giá của nhà nước: Pháp lệnh Giá chưa quy định về chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc thẩm định giá tài sản Nhà nước mà chỉ quy định hoạt động thẩm định giá được thực hiện dưới hình thức dịch vụ tư vấn do các doanh nghiệp thẩm định giá có đủ điều kiện và năng lực cung ứng. Trong khi đó, vì mục đích kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp thẩm định giá và các chi nhánh doanh nghiệp thẩm định giá được phát hành chứng thư thẩm định giá đều nằm ở các thành phố lớn hoặc ở các tỉnh có điều kiện kinh tế và thị trường bất động sản phát triển (tính đến đầu năm 2011 có trên 88% doanh nghiệp và chi nhánh doanh nghiệp thẩm định giá đóng tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ). Các địa phương khác, đặc biệt là các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa do không có doanh nghiệp hoặc chi nhánh doanh nghiệp thẩm định giá đóng trên địa bàn, lại xa các trung tâm nên gặp khó khăn lớn trong việc thẩm định giá (như chi phí thẩm định cao, không kịp thời) các tài sản nhà nước, nhất là khi mua sắm hoặc bán tài sản nhà nước.

Thứ sáu, về công tác kiểm tra, thanh tra giá: Pháp lệnh Giá có quy định về thanh tra chuyên ngành về giá nhưng lại chưa có quy định các hành vi bị cấm đối với cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá, cũng như chưa có quy định hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp thẩm định giá và thẩm định viên về giá, trong khi hoạt động thẩm định giá là hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực giá. Đến nay đã có Luật Thanh tra thì mô hình thanh tra giá quy định tại Pháp lệnh Giá không còn phù hợp và cần được thay đổi.

Thứ bảy, một số nội dung khác chưa được Pháp lệnh Giá quy định nên trong thực tế phát sinh những vướng mắc như quy định về áp dụng luật khi Pháp lệnh Giá có những nội dung khác với các luật khác thì áp dụng theo luật nào; hoặc nhiều từ ngữ, khái niệm chưa được giải thích đã tạo nên cách hiểu, vận dụng xử lý trong thực tiễn gặp khó khăn như khái niệm giá thị trường, định giá, hiệp thương giá, bình ổn giá, mặt bằng giá…

Những tồn tại, bất cập nêu trên của hệ thống pháp luật về giá gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý, điều hành giá, dẫn đến thiếu cơ chế cụ thể kiểm soát có hiệu quả tình trạng tăng giá bất hợp lý, trái pháp luật. Tình trạng độc quyền, liên minh độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh về giá nhằm thu lợi nhuận không chính đáng ở một số ngành, lĩnh vực làm phương hại đến lợi ích của người tiêu dùng chưa được kiểm soát một cách thích đáng. Tình trạng hạch toán gian lận chi phí sản xuất, chi phí đầu tư, tài sản cố định, chi phí góp vốn chưa được thẩm định đầy đủ. Chi phí tiền lương, tiền thưởng hạch toán chưa đúng quy định, lãi suất và tỷ suất lợi nhuận trên vốn bị giảm sút một cách không hợp lý. Những hiện tượng nâng giá đầu vào, tăng giá đầu ra không hợp lý của một số hàng hóa, dịch vụ làm giảm khả năng cạnh tranh; những hiện tượng lợi dụng sự biến động của giá thị trường, chủ trương điều chỉnh giá của Nhà nước để tăng giá không hợp lý chưa được kiểm soát tốt. Giá một số hàng hóa, dịch vụ chưa được tính đúng, tính đủ theo mặt bằng giá thị trường, có loại còn bao cấp, bù chéo… làm “méo mó” hệ thống giá trong nước do không phản ánh đúng giá trị hàng hóa, dịch vụ dẫn đến thị trường ngầm, buôn lậu diễn biến phức tạp.

Thực trạng trên cho thấy cần thiết phải sửa và nâng Pháp lệnh Giá lên thành Luật Giá nhằm:

- Khắc phục những tồn tại, bất cập nêu trên, tạo sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật về giá và pháp luật có liên quan đến giá. Đồng thời luật hóa đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng, chủ trương của Nhà nước về việc thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

- Đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý, điều hành giá đặt ra trong bối cảnh phải đẩy nhanh việc hoàn thiện cơ chế, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế với phạm vi ngày càng rộng, mức độ ngày càng sâu và tính chất cạnh tranh ngày càng quyết liệt hơn.

- Tạo sự đồng bộ trong tổ chức, chỉ đạo, quản lý, điều hành giá có hiệu quả theo quy định của pháp luật.

2. Xuất phát từ vai trò của giá cả trong cơ chế kinh tế thị trường

Giá cả là “đòn bẩy” kinh tế trong cơ chế thị trường. Từ những đặc trưng cơ bản của giá cả thị trường đã chỉ ra giá cả thị trường có “tính hai mặt”:

- Mặt tích cực:

+ Giá cả được coi là một hệ thống tín hiệu khách quan trên thị trường. Về cơ bản, nó là những thông tin đáng tin cậy để định hướng sản xuất, đầu tư; đồng thời để giám sát sản xuất, phát hiện hiệu quả của sản xuất, cung cấp những thông tin có căn cứ chính xác về hiệu quả sản xuất kinh doanh của từng mặt hàng; tác động làm thay đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư, tổ chức sắp xếp lại sản xuất dưới sự kiểm soát của thị trường.

+ Giá cả là lợi ích kinh tế, nên nó có tác động mạnh đến việc đổi mới công nghệ, tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất, hạ giá thành, khuyến khích sản xuất phát triển, góp phần tích cực vào việc phân bổ nguồn lực của đất nước; phân phối và phân phối lại sản phẩm trong nền kinh tế.

- Tuy nhiên, bản thân giá cả thị trường vốn chứa đựng mâu thuẫn. Do tính tự phát điều tiết vốn có, giá thị trường có thể khuyến khích sản xuất kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế nếu có hệ thống giá hợp lý. Nhưng ngược lại, nếu hệ thống giá cả vận hành không hợp lý cũng có thể dẫn đến suy thoái, khủng hoảng và thậm chí phá hủy cả một hệ thống kinh tế. Bởi vì nếu tự phát điều tiết nó có thể phân bổ nguồn lực của nền kinh tế không đúng: Do giá cả quyết định lợi nhuận, lợi nhuận sẽ đưa nhà sản xuất kinh doanh đến các khu vực sản xuất các hàng hóa, dịch vụ người tiêu dùng cần nhiều hơn mà bỏ qua những vấn đề về lợi ích công cộng của xã hội và cũng từ đó có thể dẫn đến sản xuất, đầu tư trùng lắp, kém hiệu quả, đưa lại cơ cấu sản xuất luôn thay đổi vì mục tiêu lợi nhuận. Trong phân phối và phân phối lại có thể làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội do tình trạng độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh…

Từ tình hình đó, đòi hỏi phải có cơ chế để khắc phục, cơ chế đó phải được Luật hóa ở mức độ cao hơn Pháp lệnh Giá nhằm phát huy được tính tích cực của cơ chế giá thị trường nhưng cũng phải khắc phục được khuyết tật của cơ chế giá thị trường như: độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh về giá, giá các hàng hóa, dịch vụ công cộng, hạ tầng xã hội. Đồng thời cũng là để khắc phục những bất cập của Pháp lệnh Giá. Đây là yêu cầu hết sức cần thiết để xác định vai trò của Nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế nói chung, quản lý giá cả nói riêng.

3. Bảo đảm sự can thiệp của Nhà nước về giá phù hợp với vai trò, chức năng của Nhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường

Trong cơ chế kinh tế thị trường Nhà nước cần làm tốt các chức năng sau: Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường; thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp; tạo môi trường pháp lý và cơ chế chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội cho phát triển, các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai và minh bạch, có trật tự, kỷ cương Nhà nước. Tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế chính sách và các công cụ kinh tế; đồng thời sử dụng kịp thời, có hiệu quả một số biện pháp cần thiết khi thị trường hoạt động không có hiệu quả hoặc thị trường khu vực và thế giới có biến động lớn.

Để phù hợp với chức năng quản lý nền kinh tế nói chung, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý giá bằng luật pháp theo hướng: Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá của thị trường trên cơ sở các tín hiệu: giá trị thị trường, cung cầu, cạnh tranh… Nhà nước chủ yếu sử dụng các biện pháp kinh tế vĩ mô tác động đến sự hình thành và vận động của giá cả để bình ổn giá cả thị trường; chỉ quyết định giá hoặc kiểm soát giá của một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền để khắc phục những khuyết tật của thị trường tránh gây ra những tổn thất, những bất ổn về kinh tế xã hội.

            II. MỤC TIÊU, YÊU CẦU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG LUẬT GIÁ

1. Mục tiêu, yêu cầu của việc xây dựng Luật Giá

Một là, thể chế hóa đúng đắn đường lối, chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước theo hướng: một mặt, bảo đảm vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều tiết giá cả và thị trường chủ yếu thông qua các biện pháp kinh tế. Mặt khác, các quy định của Luật phải phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường; thu hẹp danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; tôn trọng quyền tự định giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh; khuyến khích cạnh tranh, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Hai là, các quy định của Luật phải góp phần hữu hiệu vào bình ổn giá thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô; khắc phục những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng và ổn định đời sống nhân dân.

Ba là, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan; bảo đảm tính khả thi, minh bạch và thuận tiện cho tổ chức thực hiện.

            2. Quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc xây dựng Luật Giá

Một là, phải phù hợp với yêu cầu về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với các cam kết quốc tế.

Hai là, phải trên cơ sở đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn thực hiện pháp luật về giá trong những năm qua và những yêu cầu đặt ra trong quản lý, điều hành giá trong thời gian tới. Luật Giá kế thừa những nội dung, những quy định của Pháp lệnh Giá còn phù hợp; thay thế, sửa đổi những nội dung không còn phù hợp; bổ sung những nội dung mới. Bảo đảm sự thống nhất giữa Luật Giá và các luật khác có nội dung về giá, đồng thời bảo đảm để pháp luật về giá và các pháp luật có liên quan tạo thành một thể thống nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta.

Ba là, tiếp thu, chọn lọc pháp luật về giá của các nước, vận dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

III. BỐ CỤC VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT GIÁ 

1. Bố cục của Luật Giá

Luật Giá bao gồm 5 Chương và 48 Điều.

- Chương I: Những quy định chung gồm 10 Điều (từ Điều 1 đến Điều 10). Chương này quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; áp dụng Luật; giải thích từ ngữ; nguyên tắc quản lý giá; công khai thông tin về giá; nội dung và thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá; thanh tra chuyên ngành về giá; các hành vi bị cấm trong lĩnh vực giá.

- Chương II: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng trong lĩnh vực giá, gồm 4 Điều (từ Điều 11 đến Điều 14).

- Chương III: Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước; gồm 13 Điều (từ Điều 15 đến Điều 27). Chương này có 4 mục, quy định các nội dung sau đây:

+ Mục I: Bình ổn giá

+ Mục II: Định giá

+ Mục III: Hiệp thương giá

+ Mục IV: Kiểm tra yếu tố hình thành giá

- Chương IV: Thẩm định giá; gồm 19 Điều (từ Điều 28 đến Điều 46). Chương này chia thành 4 mục, quy định những nội dung dưới đây:

+ Mục I: Quy định chung về hoạt động thẩm định giá     

+ Mục II: Thẩm định viên về giá

+ Mục III: Doanh nghiệp thẩm định giá

+ Mục IV: Thẩm định giá của Nhà nước

- Chương V: Điều khoản thi hành; gồm 2 Điều (Điều 47 và Điều 48). Chương này quy định về hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành Luật.

2. Những nội dung cơ bản của Luật Giá

2.1. Những nội dung tổng quát

- Thứ nhất, bằng việc ban hành Luật Giá, Việt Nam đã công khai và khẳng định việc quản lý giá bằng pháp luật theo nguyên tắc: “Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước; phù hợp với mô hình kinh tế tổng quát của nước ta là xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù hợp với các cam kết quốc tế”

Ngay trong Chương I, Luật đã khẳng định nguyên tắc quản lý giá bao trùm là: Nhà nước thực hiện quản lý giá theo cơ chế thị trường; tôn trọng quyền tự định giá, cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trên cơ sở phù hợp với yêu cầu và sự vận động kinh tế khách quan của giá cả đối với hầu hết các hệ thống giá: nông, lâm, thủy sản; hàng tiêu dùng, dịch vụ; hàng tư liệu sản xuất, vật liệu xây dựng... Từ đó để tạo ra cơ chế làm cho giá cả phát huy được những tác dụng tích cực của nó đối với nền kinh tế như: Điều tiết, kích thích sản xuất phát triển; đổi mới công nghệ, tiến bộ kỹ thuật; đổi mới quản lý, tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm; phân bổ và sử dụng đạt hiệu quả tối ưu các nguồn lực của nền kinh tế.

Nguyên tắc bao trùm này đã được quy định cụ thể hóa trong Chương II quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng trong lĩnh vực giá; đó là:

+ Quy định cụ thể các quyền của doanh nghiệp trong việc tự định giá, điều chỉnh giá, cạnh tranh về giá thông qua các phương pháp định giá theo thời giá, đấu thầu, đấu giá, hiệp thương giá; hạ giá bán hàng hóa dịch vụ mà không bị coi là vi phạm pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về chống bán phá giá hàng nhập khẩu.

+ Quy định cụ thể các nghĩa vụ của các tổ chức sản xuất kinh doanh phải thực hiện trong lĩnh vực giá.

- Thứ hai, quy định rõ phạm vi quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá (bao gồm: nghiên cứu, xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực giá; ban hành văn bản pháp luật trong lĩnh vực giá; định giá đối với hàng hóa, dịch vụ Nhà nước còn định giá; kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giá).

Trên cơ sở đó mà quy định cụ thể (tại Chương III) về vai trò, phạm vi, mức độ, biện pháp điều tiết giá của Nhà nước theo các tiêu chí rõ ràng để các tổ chức sản xuất kinh doanh có thể tiên lượng được sự can thiệp của Nhà nước để xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp. Trong các nội dung quy định về hoạt động điều tiết giá của Nhà nước, có 3 nội dung rất quan trọng, đó là:

+ Về bình ổn giá:

Điểm mới là Luật đã đưa ra các tiêu chí để xác định loại hàng hóa, dịch vụ thực hiện BOG là loại hàng hóa như thế nào, trên cơ sở đó mà xác định danh mục hàng hóa, dịch vụ cụ thể thực hiện BOG như quy định tại Điều 15 của Luật khi giá các hàng hóa, dịch vụ đó có biến động bất thường và khi mặt bằng giá biến động ảnh hưởng đến ổn định kinh tế xã hội.

Để BOG, so với các quy định trước đây thì lần này Luật cũng đã bãi bỏ các biện pháp can thiệp của Nhà nước mang tính phi thị trường can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh làm “méo mó” hệ thống giá và không phù hợp với các cam kết quốc tế như: trợ giá, trợ cấp qua giá, bù chéo qua giá. Nhà nước thực hiện cơ chế can thiệp vào thị trường khi giá cả có những biến động bất thường chủ yếu bằng các biện pháp kinh tế vĩ mô như: điều hòa cung cầu hàng hóa, dịch vụ; các biện pháp tài chính tiền tệ; lập và sử dụng quỹ BOG đối với mặt hàng cần BOG trong danh mục hàng hóa, dịch vụ BOG; đăng ký giá, kiểm soát các yếu tố hình thành giá...

+ Về hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá:

Luật cũng đã quy định cụ thể các tiêu chí để xác định thu hẹp phạm vi định giá của Nhà nước, bảo đảm để Nhà nước chỉ định giá trong phạm vi chủ yếu đối với hàng hóa, dịch vụ độc quyền nhà nước; Hàng hóa, dịch vụ công như quy định tại Điều 19 nhằm khắc phục, hạn chế những khuyết tật, những tác động bất lợi của cơ chế thị trường đến nền kinh tế như: tự phát điều tiết sản xuất kinh doanh, độc quyền, liên kết độc quyền về giá, cạnh tranh không lành mạnh về giá.

Điểm rất mới là giá những hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá đó cũng phải nhất quán theo nguyên tắc thị trường. Các chính sách an sinh xã hội phải được xử lý bằng các chính sách khác.

+ Về kiểm tra các yếu tố hình thành giá

Quy định ở Mục 4, Chương III đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá; Hàng hóa, dịch vụ thực hiện BOG khi giá có biến động bất thường nhằm góp phần BOG, làm cho giá cả vận động ở mức hợp lý.

- Thứ ba, Luật quy định nội dung mới tại Điều 10 là quy định các hành vi bị cấm trong lĩnh vực giá đối với cả cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá; cán bộ, công chức thuộc cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá khi có các hành vi xâm phạm đến lợi ích của doanh nghiệp, của người tiêu dùng; cản trở hoạt động bình thường của thị trường và mưu lợi cá nhân như can thiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; ban hành văn bản không đúng thẩm quyền; tiết lộ thông tin không cho phép; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi... Đồng thời, Luật cũng quy định các hành vi bị cấm trong lĩnh vực giá đối với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh; các doanh nghiệp thẩm định giá, các thẩm định viên về giá: khi có hành vi gian lận về giá, chuyển giá, thông đồng về giá... làm thiệt hại đến quyền lợi của người tiêu dùng.

- Thứ tư, một nội dung rất mới của Luật so với Pháp lệnh Giá trước đây là Luật quy định cả cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều phải có trách nhiệm công khai thông tin về giá bằng các hình thức thích hợp... Góp phần làm cho thị trường hoạt động công khai, minh bạch, hạn chế thị trường ngầm, tạo ra sự đồng thuận chung trong xã hội về chủ trương quản lý, điều hành giá của Nhà nước.

- Thứ năm, Luật cũng đã quy định cụ thể, rõ ràng về hoạt động thẩm định giá tại Chương IV và bổ sung những nội dung rất mới như: Nguyên tắc hoạt động thẩm định giá; quy trình thẩm định giá tài sản; thẩm định viên về giá; doanh nghiệp thẩm định giá; hoạt động của tổ chức thẩm định giá nước ngoài tại Việt Nam.

Đặc biệt là việc thẩm định giá tài sản nhà nước không chỉ do các doanh nghiệp thẩm định giá thực hiện mà còn có cơ quan nhà nước thực hiện đối với một số loại tài sản nhất định khi các doanh nghiệp thẩm định giá chưa đủ điều kiện thực hiện như thẩm định giá đối với tài sản nhà nước ở vùng sâu, vùng xa, hay tài sản thuộc bí mật nhà nước.

 

2.2. Những nội dung cụ thể

2.2.1. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Luật Giá trước hết quy định phạm vi điều chỉnh của Luật là quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giá, sau đó là hoạt động quản lý và điều tiết giá của Nhà nước (đây là điểm khác với Pháp lệnh Giá). Quy định như vậy sẽ bảo đảm phù hợp với đường lối của Đảng là thực hiện cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước; phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời đề cao vai trò trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong lĩnh vực giá, trước hết là vai trò của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong hoạt động điều tiết giá của cơ chế thị trường.

2.2.2. Về đối tượng áp dụng (Điều 2)

Luật Giá quy định đối tượng áp dụng rộng hơn so với Pháp lệnh Giá, bao gồm tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh; người tiêu dùng; cơ quan nhà nước; tổ chức, cá nhân khác liên quan đến hoạt động trong lĩnh vực giá trên lãnh thổ Việt Nam.

Hàng hóa quy định trong Luật Giá được cụ thể là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản.

Dịch vụ quy định trong Luật Giá được hiểu là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật.

2.2.3. Về áp dụng Luật (Điều 3)

Luật Giá quy định: “Các hoạt động trong lĩnh vực giá trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ quy định của Luật này”. Đồng thời, Luật Giá cũng quy định trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

            2.2.4. Về nguyên tắc quản lý giá (Điều 5)

Pháp lệnh Giá chưa khẳng định nguyên tắc nhất quán thực hiện cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, chưa có quy định các cơ chế cạnh tranh về giá như: thoả thuận giá, đấu thầu, đấu giá, định giá dựa vào cạnh tranh.

Luật Giá đã khẳng định nguyên tắc quản lý giá được xuất phát từ “gốc” cơ bản từ mô hình kinh tế tổng quát của nước ta là xây dựng “nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa” thì cơ chế giá phù hợp với mô hình đó là: “Cơ chế giá thị trường có sự điều tiết của Nhà nước”.

            2.2.5. Về công khai thông tin về giá (Điều 6)

            Đây là điểm mới so với Pháp lệnh Giá. Luật Giá quy định chế độ phải công khai thông tin về giá đối với cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, góp phần làm cho thị trường hoạt động công khai, minh bạch, hạn chế thị trường ngầm, tạo ra sự đồng thuận chung trong xã hội về chủ trương quản lý, điều hành giá để có những phản ứng tâm lý tích cực của người tiêu dùng.

2.2.6. Về nội dung, thẩm quyền quản lý Nhà nước trong lĩnh vực giá (Điều 7Điều 8)

a) Về nội dung quản lý nhà nước về giá: Nội dung chủ yếu là nghiên cứu, xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực giá phù hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ; ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giá; định giá một số ít hàng hóa, dịch vụ và thẩm định giá tài sản nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được pháp luật quy định; thu thập, tổng hợp, phân tích và dự báo giá thị trường trong nước và thế giới để xây dựng cơ sở dữ liệu về giá phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá; tổ chức, quản lý nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn; kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giá…

Việc bổ sung nội dung “…thẩm định giá tài sản của Nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền” tuy là một điểm mới so với Pháp lệnh Giá nhưng trên thực tế, việc thẩm định giá hoặc thẩm định lại giá tài sản nhà nước đang là công việc thường xuyên của các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về giá.

b) Về thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá: Quy định 3 cấp có thẩm quyền là Chính phủ, Bộ Tài chính và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong đó, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực giá; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giá trong lĩnh vực được pháp luật quy định.

2.2.7. Về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng (Điều 11 đến Điều 14)

Pháp lệnh Giá trước hết là quy định về điều hành giá của Nhà nước, sau đó mới quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và không có quy định quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng. Luật Giá trước hết đã khẳng định và quy định rõ ràng hơn về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, của người tiêu dùng trong lĩnh vực giá, sau đó mới quy định về hoạt động điều tiết giá của Nhà nước. So với Pháp lệnh Giá, Luật Giá cũng đã quy định rõ về nghĩa vụ niêm yết giá của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện để quy định này đi vào cuộc sống.

a) Về quyền của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh (Điều 11):

Luật Giá đã quy định để khẳng định rõ hơn, cụ thể hơn và mở rộng hơn quyền của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực giá mà cốt lõi là:

            + Tự định giá, điều chỉnh giá mua bán hàng hoá, dịch vụ do mình sản xuất kinh doanh (trừ hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định giá).

+ Được cạnh tranh về giá thông qua các cơ chế: đấu thầu, đấu giá, thoả thuận giá, hiệp thương giá và các hình thức cạnh tranh về giá khác phù hợp với quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, Luật Giá cũng quy định các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh được quyền kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất kinh doanh thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ Nhà nước định giá; được quyền tiếp cận thông tin về chủ trương, chính sách giá, các biện pháp quản lý, điều tiết giá của Nhà nước và các thông tin công khai khác, cũng như có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về giá làm thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh.

b) Về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh (Điều 12)

Luật Giá quy định các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh phải thực hiện các nghĩa vụ như: Chấp hành các quyết định giá, các biện pháp bình ổn giá do cơ quan có thẩm quyền quy định, đăng ký giá, kê khai giá, niêm yết giá, công khai thông tin về giá; giải quyết khiếu nại về giá hàng hóa, dịch vụ do mình sản xuất kinh doanh. Bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về giá theo quy định của pháp luật…

c) Về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng (Điều 13 và Điều 14)

Luật Bảo vệ người tiêu dùng đã quy định toàn diện các quyền và nghĩa vụ chung của người tiêu dùng; do đó, trong phạm vi điều chỉnh, Luật Giá chỉ quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng trong lĩnh vực giá. Các quyền cơ bản của người tiêu dùng là: được lựa chọn, thỏa thuận về giá khi mua hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về giá cả, chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ; có quyền thông qua tổ chức xã hội kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giá hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá khi các yếu tố hình thành giá thay đổi.

2.2.8. Về hoạt động điều tiết giá của Nhà nước (từ Điều 15 đến Điều 27)

Pháp lệnh Giá quy định là: “Điều hành giá của Nhà nước” nhưng Luật Giá thay bằng “Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước”; sở dĩ như vậy là vì: điều hành với nội dung của nó là chỉ huy, chỉ đạo nên mang nặng tính hành chính và phạm vi tác động đến thị trường hẹp hơn “Hoạt động điều tiết” do “Hoạt động điều tiết” có nội dung là Nhà nước áp dụng các biện pháp phù hợp tác động để làm cho giá cả vận động phù hợp với quy luật để đạt được mục tiêu đề ra. Đồng thời, sử dụng cụm từ “Hoạt động điều tiết” cũng phù hợp với Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

            Hoạt động điều tiết giá của Nhà nước bao gồm các nội dung như: bình ổn giá, định giá, hiệp thương giá, kiểm tra yếu tố hình thành giá. Các nội dung như: chống bán phá giá, kiểm soát giá độc quyền trước đây Pháp lệnh Giá có quy định, Luật Giá không quy định nữa để tránh chồng chéo với các luật khác như Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và Luật Cạnh tranh.

a) Về bình ổn giá thị trường (từ Điều 15 đến Điều 18)

- Về hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá: Luật Giá quy định hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá là hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho sản xuất, đời sống được quy định theo các tiêu chí: (i) nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và dịch vụ chính cho sản xuất và lưu thông; (ii) hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người. Đồng thời, để cụ thể, Luật Giá cũng quy định ngay trong Luật Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá.

- Về trường hợp bình ổn giá: Ngoài việc vẫn quy định Nhà nước thực hiện bình ổn giá khi giá hàng hóa, dịch vụ có biến động bất thường, Luật Giá quy định bổ sung trường hợp khi mặt bằng giá biến động ảnh hưởng đến ổn định kinh tế xã hội. Luật cũng quy định Chính phủ quy định chi tiết về trường hợp thực hiện bình ổn giá.

- Về biện pháp bình ổn giá: Luật Giá bãi bỏ biện pháp “Trợ giá nông sản khi giá thị trường xuống quá thấp gây thiệt hại cho người sản xuất; trợ giá hàng hoá, dịch vụ quan trọng thiết yếu khác” vì quy định như vậy có thể dẫn đến việc trợ giá cho cả hàng nông sản xuất khẩu. Điều đó trái với quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Thay vào đó Luật Giá quy định “Áp dụng các biện pháp hỗ trợ về giá phù hợp với quy định của pháp luật và cam kết quốc tế”.

Ngoài ra, so với Pháp lệnh Giá, Luật Giá quy định bổ sung một số biện pháp quan trọng để bình ổn giá thị trường, đó là:

+ Các biện pháp về tài chính, tiền tệ phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Trong trường hợp cần thiết, lập quỹ bình ổn giá đối với mặt hàng cần bình ổn giá thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thực hiện bình ổn giá nhằm mục tiêu hỗ trợ cho bình ổn giá; sử dụng quỹ bình ổn giá khi giá của hàng hóa, dịch vụ đó biến động bất thường hoặc tác động xấu đến nền kinh tế và đời sống. Chính phủ quy định chi tiết về mặt hàng được lập quỹ bình ổn giá, việc lập, quản lý và sử dụng quỹ bình ổn giá.

+ Đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá. Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh chỉ thực hiện đăng ký giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện bình ổn giá trong thời gian Nhà nước áp dụng biện pháp bình ổn giá.

Các biện pháp này trên thực tế đã được Chính phủ áp dụng để bình ổn giá thị trường trong những năm vừa qua và đã chứng tỏ là những công cụ bình ổn giá phù hợp và hiệu quả.

- Về thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp bình ổn giá (Điều 18):

So với Pháp lệnh Giá, Luật Giá đã quy định rõ thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp bình ổn giá, như sau:

+ Chính phủ quyết định chủ trương và biện pháp bình ổn giá đối với các trường hợp quy định tại Điều 16 và Điều 17 của Luật này.

+ Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan ngang bộ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và phân công của Chính phủ hướng dẫn và tổ chức thực hiện biện pháp bình ổn giá do Chính phủ quyết định.

+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức triển khai thực hiện biện pháp bình ổn giá do Chính phủ quyết định và hướng dẫn của Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan ngang bộ; trong trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn bất ngờ, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương quyết định biện pháp bình ổn giá cụ thể tại địa phương.

Ngoài ra, Luật cũng quy định: “Cơ quan ban hành quyết định áp dụng biện pháp bình ổn giá chịu trách nhiệm quyết định thời hạn áp dụng biện pháp bình ổn giá”.

b) Về định giá của Nhà nước (từ Điều 20 đến Điều 24)

Tại mục quy định về hoạt động định giá của Nhà nước, so với Pháp lệnh Giá, Luật Giá đã sửa đổi một số quy định và bổ sung một số điểm mới cho phù hợp tình hình thực tế. Cụ thể như sau:

- Về hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá: Quy định rõ các tiêu chí hàng hóa, dịch vụ Nhà nước định giá:

+ Hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước sản xuất kinh doanh;

+ Tài nguyên quan trọng;

+ Hàng dự trữ quốc gia; sản phẩm, dịch vụ công ích và dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước.

Đồng thời, để cụ thể, Luật Giá cũng quy định Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá gắn với các hình thức định giá.

- Về nguyên tắc định giá của Nhà nước: Luật Giá quy định 2 nguyên tắc nhằm bảo đảm việc định giá của Nhà nước vừa tuân theo cơ chế giá thị trường, vừa góp phần thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, cũng như thể hiện tính linh hoạt trong hoạt động điều hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo phân cấp.

- Về thẩm quyền định giá: So với Pháp lệnh Giá, Luật Giá không quy định chung chung như Pháp lệnh Giá mà đã quy định chi tiết về thẩm quyền định giá gắn với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá. Cụ thể là (i) Chính phủ quy định: khung giá đất; khung giá cho thuê mặt nước; khung giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; (ii) Thủ tướng Chính phủ quy định khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân, cơ chế điều chỉnh giá và cơ cấu biểu giá bán lẻ điện; (iii) Bộ trưởng Bộ Tài chính, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh định giá hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều 19 của Luật Giá theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ.

c) Về hiệp thương giá (từ Điều 23 đến Điều 25)

- Về các trường hợp tổ chức hiệp thương giá (Điều 23):

Hàng hoá, dịch vụ đề nghị hoặc yêu cầu được hiệp thương về giá phải là hàng hoá, dịch vụ không thuộc Danh mục do Nhà nước định giá nhưng đó là những hàng hoá, dịch vụ quan trọng được sản xuất trong điều kiện đặc thù hoặc có thị trường cạnh tranh hạn chế; có tính chất độc quyền mua hoặc độc quyền bán hoặc các bên mua, bán phụ thuộc nhau không thể thay thế được.

Hiệp thương giá do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức hiệp thương giá (Bộ Tài chính, Sở Tài chính tùy theo phân cấp) trong các trường hợp:

Một là: Khi có đề nghị hiệp thương của một trong hai bên hoặc của cả hai bên mua và bán, sau khi họ không thoả thuận được với nhau về mức giá.

Hai là: Khi có yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Về kết quả hiệp thương giá (Điều 25):

Sau khi hiệp thương thành công, cơ quan hiệp thương sẽ thông báo mức giá các bên đã thoả thuận được để ký hợp đồng mua, bán. Trường hợp đã tổ chức hiệp thương mà các bên vẫn chưa thoả thuận được mức giá thì cơ quan hiệp thương quy định giá tạm thời để các bên thi hành cho đến khi các bên thoả thuận được mức giá.

d) Về kiểm tra yếu tố hình thành giá (Điều 26 và Điều 27)

            Kiểm tra yếu tố hình thành giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra yếu tố hình thành giá thực hiện kiểm tra các yếu tố cấu thành nên giá mua hoặc giá bán của hàng hoá dịch vụ cần kiểm tra yếu tố hình thành giá do các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh định khi giá hàng hoá, dịch vụ đó có biến động bất thường hoặc có những biến động không hợp lý nhằm làm cho giá cả được hình thành ở mức hợp lý phù hợp với giá thị trường trong điều kiện bình thường.

            - Hàng hoá, dịch vụ phải kiểm tra các yếu tố hình thành giá là: (i) hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định giá; (ii) hàng hoá, dịch vụ thực hiện bình ổn giá; (iii) hàng hoá, dịch vụ khác khi giá cả có biến động bất thường theo yêu cầu của các cấp có thẩm quyền.

- Về thẩm quyền kiểm tra các yếu tố hình thành giá:

Luật Giá quy định các cấp có thẩm quyền kiểm tra yếu tố hình thành giá như sau:

+ Bộ Tài chính chủ trì kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với: hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính; hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục bình ổn giá.

            + Các b, cơ quan ngang Bộ chủ trì kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

            + Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra yếu tố hình thành giá đối với hàng hoá, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của Chủ tịch Ủy ban nhân dân và hàng hoá, dịch vụ thuộc Danh mục bình ổn giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.

2.2.9. Về quy định chung về hoạt động thẩm định giá (mục I chương IV, từ Điều 28 đến Điều 33)

Do thẩm định giá là một ngành nghề có tính chuyên môn nghiệp vụ cao, chỉ có các cá nhân có kiến thức, trình độ chuyên môn nhất định, có kinh nghiệm và có đạo đức nghề nghiệp mới thực hiện tốt công việc này. Trong điều kiện nước ta hiện nay và những năm tiếp theo, do ngành nghề thẩm định giá chưa thực sự phát triển, các thẩm định viên về giá cần được trang bị kiến thức đầy đủ và có bài bản hơn; các quy định, nhất là hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá chưa đầy đủ và tiếp tục cần phải hoàn thiện. Mặt khác, hạ tầng cơ sở phục vụ cho công tác thẩm định giá còn chưa phát triển, như thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu nên thẩm định viên về giá nếu hoạt động một cách độc lập sẽ rất khó khăn, chất lượng của kết quả thẩm định giá không cao. Vì vậy, Luật Giá quy định chỉ có những tổ chức có đủ điều kiện, năng lực theo quy định thì mới được hoạt động thẩm định giá; cá nhân không được hoạt động thẩm định giá độc lập nhằm bảo đảm chất lượng của công tác thẩm định giá; tránh tình trạng cung cấp báo cáo kết quả và chứng thư thẩm định giá một cách tùy tiện. Hơn nữa, theo quy định hiện hành của pháp luật về hoạt động tư vấn nói chung (tại Nghị định số 87/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của Chính phủ về hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn) thì những người có đủ tiêu chuẩn làm nghề tư vấn thì phải hành nghề trong một tổ chức có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Vì lý do đó, Luật Giá quy định thẩm định viên về giá muốn hành nghề thẩm định giá thì phải đăng ký hành nghề tại một doanh nghiệp thẩm định giá.

- Về nguyên tắc hoạt động thẩm định giá (Điều 29): Thẩm định giá là một công việc chuyên môn có tính chuyên nghiệp cao nhằm tư vấn hoặc tham mưu cho người có thẩm quyền (đối với tài sản nhà nước) hoặc cho chủ sở hữu của tài sản quyết định mức giá tài sản của mình khi tham gia một giao dịch nào đó. Vì vậy, nguyên tắc hoạt động thẩm định giá trước hết phải tuân thủ theo quy định chung về nguyên tắc hoạt động dịch vụ tư vấn, đó là phải tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động thẩm định giá; bảo đảm tính độc lập về chuyên môn nghiệp vụ và tính trung thực, khách quan, bảo mật thông tin. Ngoài ra, Luật Giá cũng quy định nguyên tắc có tính đặc thù là “tuân thủ tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam

- Về quy trình thẩm định giá tài sản (Điều 30): Luật Giá đã quy định quy trình thẩm định giá chung gồm 6 bước: (i) Xác định tổng quát về tài sản cần thẩm định giá và xác định giá trị thị trường hoặc phi thị trường làm cơ sở thẩm định giá; (ii) Lập kế hoạch thẩm định giá; (iii) Khảo sát thực tế, thu thập thông tin; (iv) Phân tích thông tin; (v) Xác định giá trị tài sản cần thẩm định giá; (vi) Lập báo cáo kết quả thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá và gửi cho khách hàng, các bên liên quan.

- Về tài sản thẩm định giá (Điều 31): Luật Giá quy định tài sản thẩm định giá gồm 2 nhóm tài sản: Một là, tài sản của tổ chức, cá nhân có nhu cầu thẩm định giá; hai là, tài sản mà Nhà nước phải thẩm định giá theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Về kết quả thẩm định giá (Điều 32): Luật Giá quy định kết quả thẩm định giá được sử dụng làm một trong những căn cứ để các cơ quan, tổ chức, cá nhân và các bên liên quan xem xét, quyết định hoặc phê duyệt giá đối với tài sản.

Như vậy, kết quả thẩm định giá chỉ có giá trị tư vấn, không có giá trị pháp lý bắt buộc; do đó cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền quyết định hoặc phê duyệt giá đối với tài sản phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

- Về tổ chức nghề nghiệp về thẩm định giá (Điều 33): Luật Giá quy định nội dung mang tính nguyên tắc về tổ chức nghề nghiệp về thẩm định giá. Theo đó, tổ chức nghề nghiệp về thẩm định giá được thành lập theo quy định của pháp luật về hội, có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật về thẩm định giá. Tổ chức nghề nghiệp về thẩm định giá được tổ chức đào tạo, cấp chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ về thẩm định giá và thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến hoạt động thẩm định giá theo quy định của pháp luật.

2.2.10. Về thẩm định viên về giá (mục II chương IV, từ Điều 34 đến Điều 37)

Mục này quy định tiêu chuẩn thẩm định viên về giá; thẩm định viên về giá hành nghề; đối tượng không được đăng ký hành nghề tại các doanh nghiệp thẩm định giá; quyền và nghĩa vụ của thẩm định viên về giá hành nghề.

Tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với thẩm định viên về giá là phải có Thẻ thẩm định viên về giá theo quy định của Bộ Tài chính và phải có năng lực hành vi dân sự, có phẩm chất đạo đức tốt, có kinh nghiệm về nghiệp vụ chuyên môn

2.2.11. Về doanh nghiệp thẩm định giá (mục III chương IV, từ Điều 38 đến Điều 43)

Các doanh nghiệp thẩm định giá được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp, nhưng do dịch vụ thẩm định giá là loại hình kinh doanh có điều kiện nên cần có sự quản lý về điều kiện hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giá và thẩm định giá, đó là Bộ Tài chính. Theo đó, doanh nghiệp thẩm định giá chỉ được phép hoạt động thẩm định giá nếu được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá.

            - Về điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá (Điều 39):

Theo quy định hiện hành, Bộ Tài chính thực hiện việc hậu kiểm các doanh nghiệp có đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá bằng cách hàng năm rà soát và ra Thông báo danh sách các doanh nghiệp thẩm định giá có đủ điều kiện hoạt động. Việc thay đổi từ Thông báo sang cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá sẽ nâng cao tính hiệu lực và tính pháp lý của việc quản lý điều kiện hoạt động của doanh nghiệp thẩm định giá.

Luật Giá đã quy định cụ thể, công khai, minh bạch điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá đối với từng loại hình doanh nghiệp (công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần); đồng thời giao Chính phủ quy định trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá.

Điều kiện chung để được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá bao gồm: có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật; có ít nhất ba thẩm định viên về giá đăng ký hành nghề tại doanh nghiệp, trong đó phải có thành viên là chủ sở hữu; người đại diện theo pháp luật, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của doanh nghiệp phải là thẩm định viên về giá đăng ký hành nghề tại doanh nghiệp.

Ngoài ra, Luật Giá cũng quy định rất cụ thể về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp thẩm định giá, đảm bảo các doanh nghiệp hoạt động bình đẳng và theo cơ chế thị trường nhưng cũng phù hợp với loại hình kinh doanh có điều kiện.

- Về hoạt động của tổ chức thẩm định giá nước ngoài tại Việt Nam (Điều 43):

Khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam không có cam kết mở cửa dịch vụ thẩm định giá, nên về nguyên tắc Việt Nam có thể quy định không mở cửa cho các tổ chức thẩm định giá nước ngoài thực hiện thẩm định giá tại Việt Nam. Tuy nhiên, để thúc đẩy sự phát triển nghề thẩm định giá nước ta phù hợp với thông lệ của khu vực và quốc tế, nâng cao tiêu chuẩn và chất lượng cung ứng dịch vụ thẩm định giá, thì vẫn nên quy định mở cửa dịch vụ thẩm định giá trong phạm vi và hình thức nhất định; theo đó Luật Giá đã quy định giao cho Chính phủ quy định cụ thể về vấn đề này phù hợp với điều kiện thực tế về trình độ quản lý cũng như lộ trình mở cửa thị trường loại hình dịch vụ này của nước ta.

2.2.12. Về thẩm định giá của Nhà nước (mục IV chương IV, từ Điều 44 đến Điều 46)

Việc quy định hoạt động thẩm định giá của Nhà nước là điểm mới so với Pháp lệnh Giá xuất phát từ yêu cầu thực tế nhằm góp phần quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có hiệu quả hơn; bảo đảm lợi ích của Nhà nước khi Nhà nước thực hiện mua sắm, đi thuê, chuyển nhượng, bán, thanh lý các tài sản của mình. Việc thực hiện thẩm định giá nhà nước là một nhiệm vụ, là chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước. Tuy nhiên, với mục tiêu khuyến khích loại hình thẩm định giá độc lập phát triển, không tạo ra rào cản cho các doanh nghiệp thẩm định giá trong việc thẩm định giá tài sản nhà nước, Luật Giá quy định Nhà nước chỉ thực hiện thẩm định giá trong các trường hợp sau: mua, bán, thanh lý, cho thuê tài sản nhà nước hoặc đi thuê tài sản phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; không thuê được doanh nghiệp thẩm định giá; mua, bán tài sản thuộc bí mật nhà nước; mua, bán tài sản nhà nước có giá trị lớn mà sau khi đã thuê doanh nghiệp thẩm định giá, cơ quan hoặc người có thẩm quyền phê duyệt thấy cần thiết phải có ý kiến thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đồng thời, Luật giao Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thẩm định giá của Nhà nước.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT GIÁ

Luật Giá số 11/2012/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. Để Luật đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả, Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan tích cực triển khai xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giá (Nghị định, Thông tư...) bảo đảm có hiệu lực thi hành cùng Luật.

2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ động tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho đội ngũ cán bộ, công chức và các đối tượng có liên quan về các nội dung được quy định tại Luật bằng hình thức phù hợp (tổ chức hội nghị tuyên truyền, phổ biến Luật, xuất bản ấn phẩm hỏi đáp về Luật, giới thiệu nội dung của Luật trên các chuyên trang, chuyên mục của các phương tiện thông tin đại chúng…).

Tải file HyperLink
HyperLink HyperLink
<August 2017>
SuMoTuWeThFrSa
303112345
6789101112
13141516171819
20212223242526
272829303112
3456789
Website Bộ Tài chính
Website Tổng cục Thuế
Website UBND tỉnh Bình Dương
Hệ thống văn bản pháp luật
Công báo tỉnh Bình Dương
Bộ thủ tục thuế
Biên tập Trang tin điện tử Cục Thuế  Bình Dương
 
Địa chỉ : - Số 328 Đại lộ  Bình  Dương , Phường Phú Hòa , Thành phố  Thủ  Dầu  Một , Tỉnh Bình Dương 
Điện thoại : 0650 3 840486 - 3840453; FAX : 0650 3 840453
Email : Cucthue@binhduong.gov.vn